
Vững Bước Trong Hành Trình Làm Mẹ Bằng Ân Điển
13/10/2026Chúa Giê-xu Là Đền Thờ Mới
Bạn hình dung điều gì khi nghĩ đến đền thờ trong Kinh Thánh? Có thể bạn nghĩ đến một chiếc lều lộng lẫy giữa đồng vắng, kết bằng những tấm màn tinh xảo với các cây đòn bằng vàng tạo nên một không gian thánh. Hoặc có lẽ bạn hình dung một kiến trúc đồ sộ, với các chê-ru-bim canh giữ lối vào Nơi Chí Thánh, và những cây lựu được chạm khắc trên những bức tường dát vàng. Cũng có thể bạn nghĩ đến những khối đá được chạm khắc công phu được cố định cẩn trọng ở trên cao, sừng sững trên thành Giê-ru-sa-lem như một kỳ quan thời Hê-rốt của thế giới cổ đại. Tất cả những hình ảnh ấy đều là những mô tả chính xác về các hình thức khác nhau của đền thờ trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, điều có thể khiến chúng ta ngạc nhiên là Kinh Thánh cho biết rằng khi nghĩ đến đền thờ, chúng ta nên nghĩ đến Đức Chúa Jêsus. Mọi đền thờ khác chỉ là hình bóng chỉ về Ngài.
Đền thờ đầu tiên xuất hiện trong Kinh Thánh là vườn Ê-đen. Cũng như đền tạm và đền thờ về sau, Đức Chúa Trời dựng nên Ê-đen để làm nơi thánh của Ngài, nơi Ngài ngự giữa dân sự mình. Trước khi loài người sa ngã, Ê-đen được định ý trở thành nơi thánh ấy. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã đi dạo trong Ê-đen cũng như về sau Ngài hiện diện trong đền tạm (Sáng 3:8; Lê-vi 26:12; Phục 23:14; xem thêm 2 Sa 7:6–7). Lối vào Ê-đen và Đền Tạm đều từ phía đông (Sáng 3:24; Xuất 26:18–22), Ê-đen và đền thờ của Sa-lô-môn đều được các chê-ru-bim canh giữ (Sáng 3:24; Xuất 26:31; 1 Vua 6:23–29) và được trang hoàng bằng nhiều cây cối (Sáng 2:16; 1 Vua 6:20–36). A-đam và các thầy tế lễ đều được giao phận sự làm việc và canh giữ nơi thánh giao cho mình (Sáng 2:15; Dân 3:8; 8:26; 18:5–6). Ê-đen chính là một đền thờ.
Nhưng vì A-đam phạm tội, ông đã bị đuổi khỏi nơi thánh ấy. Khi Đức Chúa Trời giải cứu dân Ngài khỏi Ai Cập, Ngài đầy ân điển tái lập một nơi thánh, để tội nhân có thể đến gần Ngài trong sự ăn năn và thờ phượng thông qua việc dâng sinh tế liên tục (Hê 10:1). Đức Chúa Trời lập “Lều Hội Kiến,” tức Đền Tạm, để ở với dân Ngài (Xuất 29:45–46). Nhưng khi Đền Tạm được hoàn thành, dân Y-sơ-ra-ên nhận thấy rằng đám mây vinh quang của sự hiện diện Đức Chúa Trời đòi hỏi sự thánh khiết nơi tất cả những ai muốn đến gần Ngài. Vì vậy, không ai có thể vào, ngay cả Môi-se (Xuất 40:35). Một phiên bản nguy nga hơn của Đền Tạm được vua Sa-lô-môn dựng nên, và cùng đám mây ấy bao phủ đền thờ, cho thấy các thầy tế lễ cũng không thể bước vào sự hiện diện của Đấng Thánh (1 Vua 8:10–11).
Sau khi Nê-bu-cát-nết-sa phá hủy đền thờ của Sa-lô-môn và bắt dân Y-sơ-ra-ên lưu đày, đại đế Si-ru của Ba Tư cho phép Y-sơ-ra-ên trở về quê hương và xây dựng lại đền thờ (Ex. 1; 2 Sử 36:22–23). Tuy nhiên, khi những người cao tuổi đã từng thấy đền thờ của Sa-lô-môn trước kia nhìn công trình mới này, họ đã khóc than buồn bã, vì họ biết đền thờ thứ hai này không thể làm ứng nghiệm trọn vẹn những lời tiên tri đã báo trước (Ex. 3:12). Các tiên tri Cựu Ước kỳ vọng rằng nhiều dân tộc—cả người Do Thái lẫn dân ngoại—sẽ đến Giê-ru-sa-lem và thờ phượng tại đền thờ (xem Ê-sai 2:1–5). Tuy vậy, họ cũng hiểu rằng đền thờ ấy sẽ vinh hiển hơn đền thờ của Sa-lô-môn bội phần; đền thờ mới này sẽ làm rung chuyển trời và đất, trở thành vinh hiển và sự cứu rỗi cho muôn dân (A-ghê 2:5–9), chính tại biến cố mà Đức Chúa Trời phán: “Ta ở với các con” (A-ghê 2:4).
Đền thờ mà các thánh trong Cựu Ước hằng trông đợi đã đến trong Con Đức Chúa Trời nhập thể. Chính Đức Chúa Jêsus người Na-xa-rét đã đến để cư ngự hay “đóng trại” giữa chúng ta (Giăng 1:14). Ngài là sự hiện diện chân thật của Đức Chúa Trời, nơi mà trọn vẹn bản tính Đức Chúa Trời ngự trong thân thể hữu hình (Cô 2:9–10). Chính Chúa Jêsus cũng khẳng định điều đó khi phán với người Do Thái: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại” (Giăng 2:19). Trong khi người Do Thái hiểu lời Ngài theo nghĩa đen, Đức Chúa Jêsus đang nói theo nghĩa thiêng liêng về chính Ngài, là đền thờ thật của Đức Chúa Trời (Giăng 2:20–21). Thật vậy, với tư cách Thầy Tế Lễ, Ngài đã dâng chính mình qua đời sống trọn vẹn và sự chết chuộc tội, để tội nhân nhờ sinh tế của Ngài mà được bước vào sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời (Hê. 9:11–14; 10:19–20). Chúa Jêsus vừa là Thầy Tế Lễ, vừa là sinh tế, đồng thời cũng chính là đền thờ—cùng lúc.
Nhưng Tân Ước cũng mô tả đền thờ theo một phương diện khác. Trong 1 Cô-rinh-tô 3:16–17, Phao-lô viết:
Anh em không biết rằng anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh em sao? Nếu người nào phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt người ấy; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, và đền thờ ấy chính là anh em.
Khi Phao-lô viết rằng “anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời,” đại từ “anh em” ở đây là số nhiều, nghĩa là Phao-lô đang nói với dân Đức Chúa Trời như một cộng đồng — tức hội thánh. Nói cách khác, hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ cũng là đền thờ. Sau hết, các tín hữu đang được biến đổi ngày càng giống hình ảnh của Đấng Christ (Rô 8:29), vì Thánh Linh của Ngài đang ngự trong chúng ta. Sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời ở trong hội thánh Ngài, xức dầu cho hội thánh bằng Thánh Linh để thực hiện công tác đem phước hạnh của Tin Lành đến muôn dân (Ma 28:18–20; 2 Cô 4:1–6). Chúng ta, thân thể của Đấng Christ, là đền thờ trong Ngài, vì Ngài khiến chúng ta trở nên giống như chính Ngài. Vậy nên, hội thánh là sự bày tỏ hữu hình về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời khi chúng ta đại diện cho Đấng Christ trong thế gian này. Trong Đấng Christ, chúng ta là thành ở trên núi (Ma 5:14) và là ánh sáng cho các dân tộc (Ê-sai 49:6; đối chiếu Công 13:47), để thế gian có thể thấy đền thờ thật qua chúng ta.
Dù Kinh Thánh mô tả những đền thờ với gấm vóc tinh xảo, bức tường dát vàng rực rỡ, và công trình kỳ diệu, tất cả những điều đó chỉ là hình bóng báo trước những thực tại tốt đẹp đã đến (Hê 9–10). Chúng ta không còn chờ đợi một đền thờ nào khác nữa. Chúng ta đã có chính Ngài.
Bài viết này là Jesus is the new temple.


