Vì Đức Chúa Trời Yêu Thương Thế Gian

06/08/2026

Độc Thần Luận Là Gì?

13/08/2026

Vì Đức Chúa Trời Yêu Thương Thế Gian

06/08/2026

Độc Thần Luận Là Gì?

13/08/2026

Đặc Tính Của Tình Yêu

Vào đầu thế kỷ XVII, Tổng Giám mục Ussher của Ái Nhĩ Lan mong muốn đến thăm nhà của một mục sư Trưởng Lão để xem liệu những điều ông đã nghe về đời sống tin kính cá nhân của người này có đúng hay không. Ussher đến nhà của vị mục sư trong bộ dạng cải trang như một người ăn xin nghèo khổ. Ông được mời vào trong, tại đó người vợ đang dạy giáo lý vấn đáp cho cả nhà. Bà hỏi vị khách bất ngờ ấy có tất cả bao nhiêu điều răn. Khi ông trả lời: “Mười một,” bà nghĩ ông là một người hết sức dốt nát, nên không hỏi thêm gì nữa; nhưng bà vẫn cho ông ăn rồi sắp xếp chỗ ngủ cho ông.

Khuya hôm đó, vị mục sư phát hiện mưu mẹo của Ussher và yêu cầu ông giảng vào sáng hôm sau. Vậy nên Ussher, lúc này đã tắm rửa sạch sẽ và ăn mặc chỉnh tề đến nỗi người vợ không nhận ra ông, bước lên bục giảng. Ông giảng về điều mà ông nói có thể được xem là “điều răn thứ mười một,” tức là Giăng 13:34: “Ta ban cho các con một điều răn mới, ấy là các con phải yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con thể nào thì các con cũng hãy yêu thương nhau.”  Vợ của vị mục sư vô cùng kinh ngạc khi người ăn xin ấy lại trở thành một nhà giảng đạo, và bà nhận ra mình đã xét đoán ông sai lầm đến dường nào cũng như đã không bày tỏ tình yêu thương với ông nhiều hơn.

Tình yêu là gì? Làm sao bạn biết mình đang vâng giữ điều răn của Đấng Christ là yêu thương anh chị em mình trong Chúa? Một người có tình yêu thương thì đối xử với người khác như thế nào? Truyền thông đại chúng thường mô tả tình yêu như những cảm xúc bị thu hút và khoái cảm, nhưng những cảm xúc ấy lên xuống thất thường như thủy ngân trong nhiệt kế. Chúng ta cần một tình yêu ít giống như nhiệt kế nhưng giống với bộ điều nhiệt hơn — tình yêu ấy chi phối cách chúng ta phản ứng, thay vì bị các phản ứng ấy chi phối.

Những người khác nói về tình yêu như là sự chấp nhận vô điều kiện, không xét đoán, bắt nguồn từ khái niệm tâm lý học về “sự coi trọng tích cực vô điều kiện.”  Nhưng cách tiếp cận quá đơn giản này gây ra sự mơ hồ và khiến chúng ta bất lực trước ác ý và điều ác. Làm sao bạn có thể chấp nhận vô điều kiện và không xét đoán một kẻ khủng bố hay một tên giết người hàng loạt?

Ngày nay, nhiều Cơ Đốc nhân tin rằng các từ Hy Lạp then chốt về tình yêu trong Tân Ước, agapē và động từ liên hệ agapaō, không diễn tả một cảm xúc nhưng là một hành động của ý chí nhằm làm điều thiện cho người khác và chính mình sẵn sàng gánh chịu mọi giá phải trả. Nhưng quan điểm này không thể được đặt nền trên sự khác biệt giữa các từ chỉ tình yêu trong tiếng Hy Lạp, vì nhóm từ agapē có thể mang nhiều nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau. Hơn nữa, một quan niệm vô cảm về tình yêu khiến chúng ta lúng túng không biết xử lý những cảm xúc của mình thế nào. Nó cũng không chạm đến những động cơ sâu xa, thường ẩn giấu, thúc đẩy các chọn lựa của chúng ta.

Vậy thì chúng ta có thể tìm thấy một mô tả chân thật về tình yêu ở đâu? Sứ đồ Phao-lô đã cung cấp một mô tả tuyệt vời trong 1 Cô-rinh-tô 13:4–7. Phao-lô ca ngợi tình yêu (KJV: “charity,” xuất phát từ tiếng La-tinh caritas) như là “con đường tốt hơn” (1 Cô 12:31)—cao trọng hơn các ân tứ thuộc linh (chương 12) và tuyệt đối cần thiết cho một đời sống có giá trị khi được cân đo theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời (1 Cô 13:1–3). Các câu 4–7 phô bày vẻ đẹp của những phẩm chất và hành động của tình yêu.  Đó không hẳn là một định nghĩa về bản chất của tình yêu, nhưng đúng hơn là một bức chân dung về những bông trái của tình yêu; chúng cho thấy tình yêu thúc đẩy những hành động và cách cư xử và chống lại những điều khác như thế nào.

Bản mô tả bắt đầu với sự nhịn nhục và kết thúc với sự chịu đựng (c. 4, 7). Tình yêu bộc lộ bản chất thật của nó qua cách đáp ứng trước thử thách, khổ đau, và điều ác. Sự bày tỏ vĩ đại nhất của tình yêu là sự chịu đóng đinh của Đấng Christ. Phao-lô viết trong Rô-ma 5:8: “Nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là tội nhân thì Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta” (Rô 5:8). Chính Phao-lô, người đã nói rằng ông không biết gì khác ngoài “Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh vào thập tự giá” (1 Cô 2:2), hẳn là đã suy gẫm rất nhiều về tình yêu của Đấng Christ.  Giăng nhấn mạnh tình yêu là nền cội rễ của sự sẵn lòng chết thay cho chúng ta của Đấng Christ khi ông nói: “Không có tình yêu thương nào lớn hơn tình yêu thương vì bạn hữu mà hi sinh mạng sống mình.” (Giăng 15:13).

Tình yêu bày tỏ sự cao quý của nó theo nhiều cách khác nhau. Jonathan Edwards viết: “Tình yêu là một nguyên lý năng động” (Works 8:301). Về mặt tích cực, tình yêu thương hay nhịn nhục và nhân từ (1 Cô 13:4). Tình yêu cứ bền bĩ làm điều lành. Để phục vụ nhu cầu của người khác và làm vinh hiển Đức Chúa Trời, người có lòng yêu thương sẽ vẫn bền lòng ngay cả khi phải đối diện với những điều khó chịu hay gian nan. Tình yêu thương sẵn lòng lấy sự nhân từ báo đáp đau đớn, lấy điều lành đáp lại điều ác. Tình yêu Cơ Đốc phản chiếu hình ảnh của Đức Chúa Trời, Đấng “nhân từ, thương xót, chậm giận, dư dật ân huệ và thành thực” (Xuất 34:6).

Về mặt tiêu cực, tình yêu không ghen tị (1 Cô 13:4). Tình yêu thương kiềm chế sự ganh ghét ích kỷ, vì nó đã học biết nói không với bản ngã và vui mừng khi thấy người khác được thịnh vượng. Tình yêu thương không khoe mình, không lên mình kiêu ngạo (c. 4). Những phẩm chất ấy cho thấy tình yêu thương là một đức hạnh khiêm nhường.  Tình yêu thương khơi dậy một mối bận tâm về Đức Chúa Trời và người khác, đồng thời làm suy yếu sự bận tâm quá mức về chính mình. Jonathan Edwards viết rằng “Ai thật lòng yêu kính Đức Chúa Trời thì yêu Ngài vì chính Ngài là Đức Chúa Trời. . . . Khi chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời, Đấng vô hạn vượt trỗi hơn chúng ta, thì tình yêu ấy được bày tỏ trong chúng ta là những con người vô cùng thấp hèn; vì vậy, đó là một tình yêu nhuần thấm sự khiêm nhường” (Works 8:245).

Tình yêu thương không cư xử trái lẽ (1 Cô 13:5). Động từ Hy Lạp được dịch là “cư xử trái lẽ” có nghĩa là hành động trái với chuẩn mực, dẫn đến sự hổ thẹn. Tình yêu thúc đẩy một người làm điều tôn quý trước mặt Đức Chúa Trời và loài người (Rô 12:17b; 2 Cô 8:21). Khẳng định này loại bỏ mọi quan điểm phản luật pháp về tình yêu; tình yêu hướng đến luật pháp của Đức Chúa Trời (Thi 119:97) và nỗ lực làm trọn luật pháp ấy (Rô 13:8–10).

Tình yêu thương “không kiếm tư lợi” (1 Cô 13:5), nhưng thúc đẩy chúng ta tìm kiếm vinh quang Đức Chúa Trời và ích lợi cho người lân cận mình. Tình yêu khiến chúng ta trở nên những đầy tớ (Phi 2). Không nhạy giận, không nuôi dưỡng điều dữ” (c. 5). Dễ cáu gắt là dễ bị khiêu khích đến chỗ giận dữ (Công 17:16), nhưng tình yêu kiềm chế cơn giận. Tha thứ là không ghi sổ những điều sai phạm—tình yêu không thích kể tội lỗi của người ta cho rõ ràng từng món một (Rô 4; 2 Cô 5:19).

Tình yêu thương không vui về điều bất công, nhưng vui trong sự thật (1 Cô 13:6). Tình yêu hân hoan mỗi khi gặp sự công chính và lòng trung tín. Tuy nhiên, tình yêu đau buồn khi nghe tin ai đó sa vào tội lỗi và phải trả giá nặng nề vì điều đó; vì thế, tình yêu không xem những tin như vậy là món ngon cho chuyện ngồi lê đôi mách. Tình yêu như thế làm điều lành, ngay cả cho kẻ thù. 

Câu 6 quở trách thần tượng của sự khoan dung tương đối chủ nghĩa, điều thường được xem là tình yêu trong nền văn hóa của chúng ta; tình yêu chân thành bao hàm sự ghét điều ác (Rô 12:9).  Sự bày tỏ lớn lao nhất về tình yêu của Đức Chúa Trời cũng là minh chứng lớn lao nhất về sự công chính của Ngài, khi Con Ngài làm thỏa mãn công lý của Đức Chúa Trời bằng cách gánh lấy hình phạt vì tội lỗi chúng ta (Rô 3:25–26).  Vì vậy, 1 Cô-rinh-tô 13:6 đính chính quan niệm phổ biến trong vòng Cơ Đốc rằng tình yêu không liên quan gì đến cảm xúc. Tình yêu có những cảm xúc mạnh mẽ chống lại tội lỗi và hướng về sự công chính.

Trong bốn hành động hay thói quen cuối cùng được quy cho tình yêu thương (c. 7), từ “mọi sự” được lặp lại không nên được hiểu theo nghĩa tuyệt đối hay phổ quát vô điều kiện. Những câu này cần được đọc trong bối cảnh Tân Ước. Khi Phao-lô dùng từ mọi sự, ông lần lượt có ý nói rằng tình yêu thương gánh chịu mọi gánh nặng mà chúng ta phải mang như mang thập tự, tin mọi điều mà chúng ta phải tin với tư cách là Cơ Đốc nhân, hy vọng mọi điều mà chúng ta phải trông đợi theo lời hứa của Đức Chúa Trời, và chịu đựng mọi thử thách mà chúng ta phải trải qua vì cớ Đấng Christ. Như vậy, tình yêu thương khơi dậy bốn hành động này một cách nhất quán.

Tình yêu thương có sức mạnh để bền đỗ giữa những khó khăn; trong mọi hoàn cảnh, tình yêu thương vẫn cứ tin và hy vọng. Bộ ba “đức tin, hi vọng, và tình yêu thương” xuất hiện nhiều lần trong Kinh Thánh. Khi các Cơ Đốc nhân kính mến Đức Chúa Trời, lòng họ vui mừng trong tình yêu thành tín của Ngài đối với họ, là điều làm vững mạnh đức tin của họ và giữ cho niềm hy vọng của họ luôn sống động. Edwards nói rằng tình yêu là “sự sống và linh hồn của một đức tin thực hành,” tức là điều ban cho đức tin sức sống và khả năng sinh kết quả (Works 8:139, 330–31). Tình yêu thương là “thành phần cốt yếu nhất trong đức tin và hy vọng” (8:327).

Tại đây, chúng ta thấy sự mô tả của Phao-lô về hoạt động bền bỉ của tình yêu thương trong một thế giới đầy tội lỗi và khổ đau. Yêu thương là một động từ. Tuy nhiên, tình yêu thương phải vượt hơn những hành động bề ngoài; bản chất của nó nằm trong động cơ của tấm lòng. Điều gì thúc đẩy nó? Không thể là tham vọng ích kỷ, vì tình yêu thương chẳng kiêu ngạo và không tìm tư lợi.  Cũng không thể nói tình yêu thương được thúc đẩy bởi sự thích thú tức thời nơi người mình yêu; nếu vậy, tình yêu thương đã không nhịn nhục và nhân từ đối với những con người sa ngã. 

Vậy, điều gì thúc đẩy tình yêu thương? Bản văn cho chúng ta hai manh mối. Niềm vui của tình yêu thương ở trong lẽ thật, tức là trong sự công chính và thành tín của Đức Chúa Trời.  Vì thế, tình yêu thương vui mừng trong tình yêu của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ trong Đấng Christ. “Chúng ta yêu thương, vì Chúa đã yêu thương chúng ta trước.” (1 Giăng 4:19) Sự bền đỗ của tình yêu thương gắn liền với đức tin và hy vọng, tức là trong việc hướng nhìn về Đấng Christ và tin cậy lời Đức Chúa Trời. Edwards nói rằng tình yêu thương phát sinh từ một “cái nhìn hay cảm nhận về sự tuyệt hảo của Đức Chúa Trời” (Works 8:333). Vì vậy, chúng ta kết luận rằng tình yêu thương bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, hướng về Đức Chúa Trời, và được Đức Chúa Trời thúc đẩy. “Đức Chúa Trời là tình yêu thương.” (1 Giăng 4:8b) Chúng ta không khi nào kinh nghiệm sự tương giao sâu nhiệm với Đức Chúa Trời hơn là khi bước đi trong tình yêu thương chân thật.  Vì vậy, những phẩm tính và hành động của tình yêu thương thật đẹp đẽ biết bao.


Bài viết này là Love Attributes.

Joel R. Beeke

Joel R. Beeke

Dr. Joel R. Beeke is president and professor of systematic theology and homiletics at Puritan Reformed Theological Seminary and a pastor at Heritage Reformed Congregation in Grand Rapids, Mich. He is also editor of Banner of Sovereign Grace Truth, editorial director of Reformation Heritage Books, president of Inheritance Publishers, and vice president of the Dutch Reformed Translation Society. He has written, coauthored, or edited eighty books, including A Puritan Theology: Doctrine for Life.