Kinh Thánh Dạy Gì Về Nữ Mục Sư?

04/08/2026

Kinh Thánh Dạy Gì Về Nữ Mục Sư?

04/08/2026

Vì Đức Chúa Trời Yêu Thương Thế Gian

Mọi Cơ Đốc nhân đều tin vào sự cứu chuộc có giới hạn. Điều đó có thể nghe thật nực cười đối với những người bạn theo phái Arminius của tôi, vì đã từ lâu người ta vẫn mặc định rằng chỉ những người theo thần học Calvin mới giữ chữ “L” đáng sợ trong TULIP (Limited Atonement—Sự chuộc tội có giới hạn). Nhưng nếu cái chết của Đức Chúa Jêsus Christ được nhìn nhận là sự chuộc tội thực sự (chứ không chỉ là sự chuộc tội mang tính tiềm năng), thì không thể né tránh câu hỏi về tính giới hạn, trừ khi bạn tin vào sự dối trá của thuyết phổ độ.

Chính sự nhìn nhận rằng sự chết của Đấng Christ thật sự chuộc tội cho tội lỗi chi phối cách chúng ta giải thích những đoạn Kinh Thánh tuyệt diệu nói về bề rộng lớn lao của công cuộc cứu rỗi của Ngài. Chẳng hạn, Giăng viết rằng Đức Chúa Jêsus là: “Chính Ngài là tế lễ chuộc tội chúng ta, không những vì tội của chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội của cả thế gian nữa” (1 Giăng 2:2). Sự lựa chọn ở đây không phải là giữa thần học Calvin và thần học Arminius mà là giữa thần học Calvin và thuyết phổ độ. Nếu “thế gian” được hiểu là “mọi cá nhân từng sống và sẽ sống,” thì tất cả đều sẽ được cứu, vì bản chất khách quan của sự chuộc tội là làm nguôi cơn thịnh nộ. Sẽ không có tội lỗi nào không phải trả giá—kể cả tội vô tín.

Không ai nghiêm túc với những lời dạy của Kinh Thánh về địa ngục và sự phán xét lại có thể thừa nhận thuyết phổ độ; điều đó có nghĩa là Giăng dùng từ “thế gian” ở đây theo một nghĩa khác với “mọi cá nhân từng sống” (như ông vẫn thường làm; xem Giăng 14:19; 16:8; 18:20; 1 Giăng 2:15). Mối quan tâm của Giăng là xác quyết rằng Đức Chúa Jêsus là Cứu Chúa duy nhất của thế gian. Sự chết của Ngài cứu chuộc người ta không chỉ trong vòng người Do Thái, người Mỹ, hoặc bất kỳ một nhóm riêng lẻ nào, nhưng từ khắp thế gian.

Thần học Calvin bảo vệ chúng ta, một mặt, khỏi thuyết phổ độ; mặt khác, khỏi những sai lầm làm suy giảm tính khách quan của sự chuộc tội. Người theo chủ nghĩa Calvin nhìn nhận rằng sự chết của Đức Chúa Jêsus chắc chắn cứu rỗi tất cả những người mà sự chết ấy đã được định cho. Nói cách khác, sự chuộc tội được xem là có tính giới hạn về phạm vi và mục đích. Hết thảy những người mà Đấng Christ đã chết thay cho đều sẽ được cứu.

Tuy nhiên, chủ nghĩa Arminius không thể ngăn ngừa một cách hữu hiệu những sai lầm như thế. Người theo phái Arminius cho rằng sự chết của Chúa Jêsus được định nhằm cứu mọi người, từng người một, trong lịch sử nhân loại, nhưng rốt cuộc lại không thực sự làm được điều đó. Như vậy, sự chuộc tội ấy đã không cứu hết thảy những người mà nó được định liệu cho. Nói cách khác, quan điểm Arminius, dù khẳng định rằng sự chuộc tội của Đấng Christ là vô hạn về phạm vi, rốt cuộc buộc phải kết luận rằng nó có tính giới hạn về hiệu lực. Nó đã không thực hiện được mục đích phổ quát của mình.

Sự khác biệt giữa hai quan điểm này giống như khác biệt giữa một cây cầu hẹp nhưng bắc trọn qua một thung lũng và một cây cầu rộng hơn nhưng chỉ vươn được nửa đường. Cầu có rộng đến mấy thì ích chi nếu nó không đưa bạn sang được bờ bên kia?

Chính khác biệt này đã khiến Charles Spurgeon lập luận rằng thần học Arminius giới hạn sự chuộc tội của Đấng Christ nhiều hơn rất nhiều so với thần học Calvin. Người Arminius nói:

“Đấng Christ đã chết để bất cứ ai cũng có thể được cứu, nếu” — rồi theo sau là những điều kiện nhất định của sự cứu rỗi. Vậy ai mới là người giới hạn hiệu lực sự chết của Đấng Christ? Ấy chính là các ông.  .Các ông nói rằng Đấng Christ đã không chết theo cách bảo đảm một cách bất khả sai sự cứu rỗi cho bất kỳ ai. Xin lỗi, khi các ông nói rằng chính chúng tôi giới hạn sự chết của Đấng Christ, thì chúng tôi đáp: “Không, thưa ngài thân mến, chính các ông mới làm như vậy.” Chúng tôi khẳng định rằng Đấng Christ đã chết theo cách bảo đảm chắc chắn, không thể sai trật, sự cứu rỗi cho một đoàn dân đông không ai đếm được; nhờ sự chết của Đấng Christ, họ không chỉ có thể được cứu, mà thật sự được cứu, ắt phải được cứu, và tuyệt đối không có khả năng nào khác ngoài việc được cứu. Các ông cứ giữ lấy giáo lý chuộc tội của các ông; cứ việc giữ lấy. Còn chúng tôi sẽ chẳng bao giờ từ bỏ giáo lý của mình để đổi lấy nó” (Bài giảng của Spurgeon, tập 4, tr. 228).

Vậy, “quan điểm” về sự chuộc tội của chúng ta—điều mà Spurgeon đã hết lòng bênh vực—là gì? Cụ thể, đó là sự hiểu biết rằng Chúa Jêsus thật sự đã chuộc hết thảy những người Ngài định cứu chuộc khi Ngài đổ huyết trên thập tự giá.  Cũng như thầy tế lễ thượng phẩm dưới giao ước cũ mang tên của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên trên bảng đeo ngực khi thi hành chức vụ dâng sinh tế, thì Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vĩ đại của chúng ta trong giao ước mới đã ghi khắc tên dân Ngài trên lòng khi Ngài dâng chính mình làm sinh tế chuộc tội cho họ.

Trong Giăng 10, Chúa Jêsus công bố rõ trọng tâm đặc thù của sự chết chuộc tội của Ngài. Ngài tự xưng là “Người Chăn Hiền Lành” Đấng vì bầy chiên “hy sinh mạng sống mình” (Giăng 10:11). Ngay sau đó, Ngài mô tả bầy chiên là những người Cha đã ban cho Ngài. Hơn nữa, Ngài thẳng thắn phán với một số người Y-sơ-ra-ên không tin rằng: “nhưng các ngươi không tin, vì các ngươi không phải là chiên của Ta” (Giăng 10:26–29).

Lời cầu nguyện thượng tế của Chúa chúng ta trong Giăng 17 cho thấy cùng một phạm vi giới hạn. Khi Ngài chuẩn bị bước vào sự hi sinh đền tội thay cho dân Ngài, Ngài cầu nguyện cách cụ thể—thật ra là độc nhất—cho họ. Họ là những người mà Cha đã ban cho Ngài từ giữa thế gian (Giăng 17:6) Vì thế, sự cầu thay trong vai trò tế lễ của Ngài được dành riêng cho họ: “Con vì họ mà cầu xin; không phải vì thế gian mà Con cầu xin đâu, nhưng vì những người mà Cha đã ban cho Con, vì họ thuộc về Cha” (Giăng 17:9). Thật không thể hình dung rằng Chúa Jêsus lại không cầu nguyện cho những người mà Ngài sắp chết thay như một sinh tế đền tội thay thế. Những người Ngài cầu thay cũng chính là những người Ngài đã chết thay. 

Giáo lý về sự chuộc tội có giới hạn, hay sự cứu chuộc đặc biệt, không hề hàm ý bất kỳ sự thiếu hiệu lực nào nơi sự chết của Đấng Christ. Bởi vì chính bản tính của Đấng chịu khổ, nên sự chết của Chúa Jêsus có giá trị vô hạn. Tín điều của Dort (Canons of Dort) dành rất nhiều nỗ lực để khẳng định điểm này và tuyên bố rõ ràng rằng “sự chết của Con Đức Chúa Trời… có giá trị và giá cả vô hạn, đầy đủ để chuộc tội cả thế gian” (2.3).

Tính giới hạn trong chuộc tội bắt nguồn từ ý định và mục đích của Đức Chúa Trời khi sai Đức Chúa Jêsus đến thập tự giá. Công tác cứu chuộc của Đấng Christ được định nhằm trở nên sự chuộc tội đặc biệt cho chính dân Ngài — những người mà Cha đã ban cho Ngài. Sự chết của Ngài nhằm cứu những người được chọn.

Chúa Jêsus dạy rằng toàn bộ chức vụ cứu chuộc của Ngài được thực hiện nhằm ứng nghiệm một chương trình đã được Đức Chúa Trời định trước. Đây là điều Ngài muốn nói trong Giăng 6:38–39:

Vì Ta từ trời xuống, không phải để làm theo ý Ta, mà làm theo ý Đấng đã sai Ta.  Đây là ý muốn của Đấng đã sai Ta: Tất cả những người Ngài đã ban cho Ta thì Ta sẽ không để mất một ai, nhưng Ta phải làm cho sống lại trong ngày cuối cùng.

Các nhà thần học gọi sắp đặt này là “giao ước cứu chuộc,” trong đó, trước khi lịch sử khởi đầu, Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh đã giao ước thực hiện sự cứu rỗi cho nhân loại sa ngã. Chỉ bởi lòng thương xót và ân điển, Đức Chúa Cha đã chọn những người sẽ được cứu (Rô 9:11–13; Êph. 1:4; 2 Tê 2:13).  Ngài ban những người được chọn ấy cho Con Ngài (Giăng 6:37, 39; 17:6, 9, 24); và Con đã cam kết hoàn tất sự cứu rỗi của họ qua sứ mạng nhập thể và cứu chuộc của Ngài (Mác 10:45; Giăng 10:11).  Theo kế hoạch thiên thượng này, Đức Thánh Linh được Cha và Con sai đến thế gian (Giăng 15:26; 16:5–15) để khiến công lao cứu chuộc của Đấng Christ được hiệu lực trên những người mà Cha đã ban cho Con và vì họ Con đã chịu chết.

Quan điểm về sự chuộc tội này bảo đảm sự thành công của công tác truyền giảng.  Đức Chúa Trời có một dân chắc chắn được cứu qua sự rao giảng Phúc Âm. Ngài đã chọn họ. Đấng Christ đã chết vì họ. Và Đức Thánh Linh sẽ tái sinh họ qua sứ điệp cứu rỗi. Lẽ thật này đã giữ gìn Phao-lô khi ông đối diện nản lòng tại Cô-rinh-tô (Công 18:9–10), và cũng sẽ thúc giục chúng ta bền lòng trong nỗ lực truyền giảng ngày nay—không chỉ tại địa phương, mà còn trên phạm vi toàn cầu (Khải 5:9).


Bài viết này là For God So Loved the World.

Tom Ascol

Tom Ascol

Tiến sĩ Tom Ascol là Mục sư Quản nhiệm của Grace Baptist Church tại Cape Coral, bang Florida, đồng thời là chủ tịch của Founders Ministries và The Institute of Public Theology. Ông là người dẫn chương trình podcast hằng tuần The Sword & The Trowel và là biên tập viên của cuốn Dear Timothy: Letters on Pastoral Ministry.